Hiển thị các bài đăng có nhãn Thâm cung bí sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thâm cung bí sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 11 tháng 10, 2014

Vị hoàng đế 'lên giường' với cả mẹ kế lẫn cháu ruột

Trong lịch sử phong kiến Trung Quốc, những người cùng dòng họ không được phép kết hôn với nhau, đó là quy tắc “bất di bất dịch”. Tuy nhiên, có một vị hoàng đế đã không những bất chấp quy định này để ép hai người con gái cùng dòng họ với mình thành hôn, mà “loạn luân” đến nỗi đưa 4 cô cháu gái ruột vào cung để làm thê thiếp.

Chân dung hoàng đế Lưu Thông (ảnh minh họa)
Đó chính là Lưu Thông- tức Chiêu Vũ Đế nhà Hán Triệu (310-318), người được đánh giá có khả năng thấy được các kế hoạch chiến lược tốt từ những điều xấu, nhưng có cuộc sống buông thả trong rượu và phụ nữ. Chính kiểu cách cư xử thất thường của vị hoàng đế này đã dẫn đến cái chết thương tâm của những quan chức trung thực nhất tại thời điểm đó.

Lưu Thông là người Hung Nô- một dân tộc thiểu số chuyên sống bằng nghề du mục ở Nội Mông. Ông cũng là “hoàng đế” tự xưng thứ hai sau Lưu Uyên của Hán Triệu- một tiểu quốc trong thời kỳ “Ngũ Hồ thập lục quốc” vào cuối thời kỳ nhà Đông Tấn (265-420).

Xuất thân từ một dân tộc chuyên du canh du cư, nay đây mai đó, nên ngay từ khi còn trẻ tuổi, Lưu Thông đã tỏ ra là một người có phong cách sống rất phóng khoáng và “chơi hết mình”. Khác với những thanh niên cùng thời, Lưu Thông thích đi ngao du thiên hạ và mở rộng mối quan hệ khắp kinh đô Lạc Dương của nhà Tấn- nơi hội tụ của những bậc hiền tài và quý tộc Trung Hoa cũ.

Năm 310, người sáng lập ra triều đại Hán Triều là Lưu Uyên chết và Lưu Thông lên thay. Thực chết, ngôi vị hoàng đế có thế đã không lọt vào tay Lưu Thông khi một người anh em khác là Lưu Hòa đã “nhắm” ngôi vị này trước khi vua cha băng hà. Nhưng vốn là một người có tầm “nhìn xa trông rộng”, hơn nữa mối quan hệ rộng đã khiến cho mọi âm mưu của “kẻ địch” đã bị Lưu Thông “nắm thóp”. Thay vì bị đẩy vào kế hoạch ám sát thì Lưu Thông lên nắm giữ ngôi vị hoàng đế của nhà Hán Triệu và đẩy người anh em Lưu Hòa vào chỗ chết.

Sau khi lên ngôi, Lê Thông tiếp tục con đường chính trị của người cha là tấn công Tây Hán để mở rộng bờ cõi. Cũng thay vì là một người “phóng khoáng, tài cao học rộng” như trước đây mọi người đánh giá về con người này thì ngay sau khi lên ngôi, Lưu Thông đã bộc lộ ngay bản chất thực sự của mình. Ngoài việc đẩy lui những quan lại can gián việc triều chính không đồng ý kiến, Lưu Thông còn tỏ rõ bản chất của một hoàng đế hoang dâm vô độ, bất chấp luân thường đạo lý để “loạn luân” với ngay cả những người cùng dòng họ.


Đa tình, háo sắc là bản chất chung của tất cả các vị hoàng đế đã tồn tại trong lịch sử Trung Hoa, vì thế có thêm cái tên Lưu Thông vào trong danh sách này cũng không có gì đáng ngạc nhiên. Tuy nhiên, sự háo sắc, loạn luân của Lưu Thông tệ hại đến nỗi mà mỗi khi nhắc lại lịch sử còn phải thấy “rùng mình”. Mặc dù cũng là người có công lớn đối với triều đại Hán Triệu, nhưng khi xét một cách tổng thể thì Lưu Thông vẫn bị “liệt” vào dạng hôn quân.

Sự kiện “hoang dâm vô độ” đầu tiên mà Lưu Thông đã thực hiện là đưa quý phi được sủng ái từ thời cha của mình thành “người chung giường”. Theo tập tục của người Hung Nô, sau khi cha chết thì vợ của cha trở thành mẹ của con trai. Tuy nhiên, vì không cưỡng nổi trước vẻ đẹp “tuyệt sắc” của quý phi mà Lưu Thông đã sửa lại luật: “Sau khi cha chết, vợ cha cũng như vợ con”. Việc làm này của Lưu Thông mặc dù nhận phải sự chống đối quyết liệt từ các đại thần trong triều, nhưng vì quá đam mê “tửu sắc” nên vị hoàng đế này không nghe theo mà ngày đêm đắm say trong sự hoan lạc với… vợ của bố.

Không chỉ dừng lại ở đó, Lưu Thông có một người con chú con bác tên là Lưu Diệu cũng làm quan đại thần trong triều đình. Một ngày sau khi đến phủ của Lưu Diệu dự tiệc, tận mắt nhìn thấy dung nhan “tựa tiên nữ” của hai cô con gái người em họ là Lưu Nga và Lưu Anh. Không cưỡng nổi dục vọng, mặc dù có cùng huyết thống, nhưng Lưu Thông đã bắt Lưu Diệu phải đưa hai cô con gái này vào cung để “hầu chuyện” nhà vua. Mục đích sâu xa của Lưu Thông là sẽ lập cả hai cô cháu này của mình thành quý phi để ngày đêm “phục vụ” ông bác.

Nghe được tin dữ, Lưu Diệu cảm thấy vô cùng xấu hổ với quyết định ‘tày trời” của Lưu Thông. Ông sợ rằng, nếu chuyện này lộ ra ngoài sẽ làm xấu bộ mặt của hoàng tộc và tạo ra sự bất mãn đối với dân chúng. Vì thế, Lưu Diệu đã vào trong cung “răn đe” hoàng đế đương vị rằng: “Việc lấy người trong dòng họ làm phi là một điều tổ tiên đã ngăn cấm”. Đáp lại lời của Lưu Diệu , ngay hôm sau Lưu Thông đã ra quyết định “Những người thuộc cùng dòng họ vẫn có thể lấy nhau”. Chỉ sau khi quyết định ra có ít ngày, hai cô con gái của người em họ Lưu Diệu cực chẳng đã phải vào cung để hầu hạ tên hoàng đế háo sắc và loạn luân.

Sau khi đưa hai người cháu gái vào cung để vui thú ngày đêm, tưởng chừng như sự bất chấp luân thường đạo lý của Lưu Thông sẽ dừng lại tại đây. Tuy nhiên, đối với một vị hoàng đế đam mê tửu sắc và hoang dâm vô độ như Lưu Thông thì mọi “chuyện hoang đường” đã không chỉ dừng lại. “Cay cú” vì việc can gián của Lưu Diệu, sau một thời gian ngắn, Lưu Thông lại có quyết định đưa 4 người cháu gái của Lưu Diệu vào cung để làm quý nhân- đây cũng là những người con gái vô cùng xinh đẹp của các con trai Lưu Diệu. Sau sự kiện “động trời” này, Lưu Thông đã ghi vào lịch sử Trung Quốc khi “ba thế hệ” cùng “chung giường” với hoàng đế. Trong giới sử học Trung Quốc, cái tên hoàng đế Lưu Thông đã trở thành một biểu tượng cho sự dâm loạn bậc nhất.

Trong danh sách “6 vị con cháu nhà Lưu Diệu” nhập cung thì Lưu Anh được Lưu Thông sủng ái nhất. Trong kế hoạch của vị hoàng đế này thì chức vị hoàng hậu sẽ chỉ do Lưu Anh nắm giữ sau khi hoàng hậu trước chết yểu. Tuy nhiên, vì Lưu Anh có xuất thân đặc biệt, lại vi phạm quy tắc của tổ tiên khi kết hôn nên rất nhiều đại thần can gián việc lập hậu cho Lưu Anh, trong đó có một đại thần tên là Trần Nguyên Đạt. Vị đại thần này kịch liệt phản đối việc lập hậu và cho rằng: Như thế là đi ngược lại với luân thường đạo lý và làm xấu bộ mặt tổ tiên, vì Lưu Anh là người trong họ. Lúc đầu, Lưu Thông cũng thấy có lý nên định đưa một quý phi khác lên làm hoàng hậu, tuy nhiên lúc này Lưu Anh bắt đầu “dở trò”.

Một ngày đẹp trời, hoàng đế Lưu Thông nhận được một bức “huyết thư” của Lưu Anh viết rằng: “Nô tỳ đã đi ngược lại với luật lệ của tổ tiên để vào cung hầu hạ hoàng thượng. Những lời dèm pha, dị nghị của bá tánh nô tỳ đã nếm đủ, nhưng chưa bao giờ nô tỳ oán trách một lời để ngày đêm hầu hạ, phục dịch hoàng thượng. Nay hoàng thượng chỉ vì lời can gián của một vị đại thần mà bỏ rơi nô tỳ, như thế ắt không công bằng sao? Vì thế nô tỳ nghĩ rằng, chỉ có cái chết mới trả lại sự trong sạch cho nô tỳ”. Sau khi nhận được bức huyết thư của Lưu Anh, Lưu Thông lập tức phong Lưu Anh làm hoàng hậu và bắt đại thần Trần Nguyên Đạt tống giam vì tội “lắm chuyện”. Trong ngục, vì quá uất ức và bất lực nên vị đại thần này đã tự vẫn và chết một cách thê thảm.

Không chỉ lập Lưu Anh làm hoàng hậu, để “chơi nổi”, trong 8 năm liên tiếp, Lưu Thông còn lập nên 10 vị hoàng hậu nữa tại hậu cung, tạo thành một “đội ngũ” hoàng hậu đồ sộ chưa từng có trong lịch sử của Trung Quốc. Chính vì có quá nhiều hoàng hậu, nên sự xung đột về lợi ích thường xuyên xảy ra tại hậu cung. Sự ghen ghét, đố kỵ, hãm hại lẫn nhau xảy ra như cơm bữa giữa 11 vị hoàng hậu này.

Trong giai đoạn trị vì của mình, Lưu Thông đã bỏ quên mất nhiệm vụ của một vị hoàng đế mà suốt ngày đam mê tửu sắc. Sử sách còn ghi lại rằng, cả ngày Lưu Thông có thể ở phòng của hoàng hậu Lưu Anh hoặc các “hoàng hậu” khác mà không màng tới chuyện thế sự. Có giai đoạn, 3 tháng ròng Lưu Thông không hề thiết triều để chăm lo việc triều chính mà chìm đắm trong sự hoan lạc với phụ nữ và tiệc rượu. Không những thế, vị hoàng đế này còn rất sủng ái những quan thái giám, làm cho những nhân vật “nam chẳng ra nam, nữ chẳng ra nữ” này kéo bè kết đảng, mua quan bán tước, làm đủ chuyện xấu xa. Vì thế mà tình hình xã hội của nhà Hán Triệu khi đó trở nên tồi tệ và đã không thể cứu vãn nổi ở những đời hoàng đế sau này.
theo: Khampha

Thứ Sáu, 10 tháng 10, 2014

Lê Chất ơi là Lê Chất

Lê Chất người huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định, sinh năm Giáp Ngọ (1774), mất năm Bính Tuất (1826), thọ 52 tuổi.

Thời trẻ, Lê Chất từng tham gia phong trào Tây Sơn, lập được nhiều công, được phong tới chức Đô đốc. Bấy giờ, có Lê Trung là tướng của Tây Sơn, vì mến tài của Lê Chất, đem con gái là Lê Thị Sa mà gả cho. Lê Chất cùng cha vợ là Lê Trung gắn bó với nhau một thời gian khá dài.

Sau khi Quang Trung mất (1792), nội bộ Tây Sơn có sự mất đoàn kết. Lê Chất lấy đó làm lo lắng. Nhân thấy tướng của Nguyễn Phúc Ánh là Nguyễn Văn Tính đóng quân ở gần đấy, Lê Chất bàn với Lê Trung ra hàng, nhưng Lê Trung cứ chần chừ không quyết. Thấy không thể thuyết phục được, Lê Chất bèn viết thư xin hàng gởi cho Nguyễn Văn Tính, ước hẹn sẽ làm nội ứng cho Nguyễn Văn Tính. Nguyễn Văn Tính đem thư ấy dâng lên Nguyễn Phúc Ánh, Nguyễn Phúc Ánh nói với Nguyễn Văn Tính và các tướng rằng:

- Lê Chất là đứa giảo hoạt cho nên, lời này chưa hẳn đã là lời thực đâu.

Sau, Lê Trung biết việc Lê Chất gởi thư cho Nguyễn Văn Tính, bèn chỉ mặt quát mắng. Từ đó, Lê Chất rất lo sợ. Năm 1798, khi Lê Chất đang đóng quân ở Trà Khúc thì nội bộ Tây Sơn càng mất đoàn kết hơn, đã thế, quân của Nguyễn Phúc Ánh lại liên tiếp thắng được mấy trận liền, cho nên, Nguyễn Quang Toản ngờ rằng Lê Trung cùng con rể là Lê Chất thông đồng với giặc. Lê Trung bị giết còn Lê Chất thì thoát được nhưng bị truy lùng rất gắt gao. Bí quá, Lê Chất bắt một người có khuôn mặt giống mình, bỏ thuốc độc cho chết để đóng vai Lê Chất tự tử. Chuyện này, ngay cả mẹ của Lê Chất là Đào Thị cũng nhầm, ôm xác người bị bỏ thuốc độc chết mà khóc rất thê thảm. Tây Sơn thì tin là Lê Chất đã chết rồi nên không truy lùng nữa. Sau đó chẳng bao lâu, Lê Chất bí mật đem mẹ và vợ con vào ẩn náu trong núi Trà Bồng Tại đây, Lê Chất quen một người (không rõ họ tên) mà người này lại quen với một tướng của Tây Sơn là Lê Văn Thanh. Biết tướng quân này vốn trọng tài của Lê Chất, người ấy bèn nói:

- Ông biết tài làm tướng của Lê Chất, sao không nhờ Lê Chất đến đỡ cho một tay.

Lê Văn Thanh nói:

- Chất đã chết rồi, còn đâu nữa mà dùng.

Người ấy thưa:

- Tin dùng Lê Chất thì Lê Chất sống, còn như không tin dùng Lê Chất thì Lê Chất chết.

Lê Văn Thanh hỏi lại dầu đuôi, người ấy liền cứ tình thực mà kể lại, sau đó, về nhà dẫn Lê Chất vào. Lê Văn Thanh thấy Lê Chất, vui quá mà nói đùa rằng:

- Chất hay là ma đây ? Mày chết rồi, ai lấy da thịt đắp vào xương mày mà mày lại có thể đến đây.

Nói rồi, lấy rượu cùng uống và lưu lại trong quân của mình. Năm 1799, Lê Chất đem 200 người đến Quy Nhơn, gặp tướng của Nguyễn Phúc Ánh là Võ Tánh để xin hàng. Nguyễn Phúc Ánh cho Lê Chất làm thuộc tướng của Võ Tánh, đồng thời, cho người đón mẹ và vợ con của Lê Chất vào Gia Định để nuôi nấng. Từ đây, Lê Chất gắn bó với Nguyễn Phúc Ánh đến hết đời.

Bởi lập được nhiều công lao, Lê Chất luôn được trọng thưởng. Tuy nhiên, vinh nhục vốn chẳng cách xa nhau, mỗi lần được trọng thưởng là một lần Lê Chất bị kèn cựa hoặc gièm pha, vui buồn lẫn lộn, thật khó mà nói cho hết được. Nay theo sách Đại Nam chính biên liệt truyện (Sơ tập, quyển 24), dẫn chuyện vinh nhục của Lê Chất như sau:

"Năm Gia Long thứ nhất (tức năm 1802 - NKT) Vua đem đại quân đi đánh Bắc thành (tức vùng Bắc Bộ - NKT), thăng Lê Chất làm Khâm sai Chưởng Hậu quân, cờ hiệu Bình Tây Tướng quân, cùng với (Lê Văn) Duyệt đem bộ binh tiến lên trước. Quân ta (chỉ quân của Gia Long – NKT) đến đồn Tiên Lý ở dinh Vĩnh Định, gặp giặc là đánh tan, thừa thắng tiến mãi, thế như chẻ tre. Bắc Hà bình định xong, tin thắng lợi báo về, Vua ban thưởng rất hậu. (Lê) Chất được phong tước Quận công và được mang ấn Bình Tây Tướng quân. Các tướng là bọn Đặng Trần Thường bàn riêng với nhau rằng:

- (Lê) Chất mà Bình Tây thì ai bình (Lê) Chất ? (Lê) Chất mà Quận công thì lũ ta phải mười lần Quận công.

(Lê) Chất nghe biết được lời ấy, tự thấy không yên lòng, bèn dâng Vua tờ biểu, đại lược nói rằng:

- Tôi là kẻ bất tài mới quy phụ, nếu ví với các quan thì họ đến vạn phần gian nan mà tôi chưa được một. Tôi đã được phong đến tước Quận công lại còn được làm Chưởng Hậu quân, như thế là lạm ở hàng cao quý, xét không thể đảm đương được. Vậy, xin được xuống hàng Đô thống chế cho ngang với các quan khác.

Vua đem tờ biểu ấy cho triều thần bàn định. Triều thần bàn định rằng, phong tước là để đền đáp công lao, cũ mới nào có khác nhau gì, những lời đàm tiếu ở ngoài chẳng có gì đáng kể cả. Vua xuống dụ sai (Lê) Chất giữ chức tước như đã phong, lại cho mẹ của ( Lê) Chất mỗi tháng 40 phương gạo.

Năm (Gia Long) thứ hai (tức năm 1803 - NKT), Vua sai xây dựng kinh thành (Huế), bọn (Lê) Chất cùng Nguyễn Văn Khiêm, Phạm Văn Nhân được giao việc đốc suất. Đến tháng 8 (năm 1803), Vua đi Bắc tuần, (Lê) Chất cùng với Nguyễn Văn Trương và Nguyễn Đức Xuyên đem quân bản bộ theo hầu. Khi đến Thanh Hoa thì được tin ở Quảng Yên có giặc biển, quan Bắc thành Tổng trấn là Nguyễn Văn Thành đem việc ấy tâu lên. Vua liền sai (Lê) Chất cùng Nguyễn Văn Trương đem quân tiến lên trước để đánh giặc. (Lê) Chất nói với Nguyễn Văn Trương:

- Địa phương nào có giặc thì quan lại địa phương đó phải đánh. Nay, các quan ở Bắc thành đem giặc cho ta đánh, tướng quân sao không nói rõ chuyện này ?

(Nguyễn Văn) Trương nói:

- Đợi đến xong việc rồi nói cũng không muộn gì.

(Nguyễn Văn) Trương đến Quảng Yên thì giặc sợ mà chạy, bèn về uống rượu với (Nguyễn Văn) Thành và đem lời (Lê) Chất nói lại cho (Nguyễn Văn) Thành hay.

Từ đó, (Nguyễn Văn) Thành để bụng giận (Lê) Chất. Năm (Gia Long) thứ ba (tức năm 1804 – NKT) Vua ban yến cho quần thần, nhân đó triệu (Lê) Chất đến hỏi lại, (Lê) Chất chối.

Hỏi (Nguyễn Văn) Trương, Trương đáp:

- Những gì nói trong lúc uống rượu, giờ chẳng nhớ nữa.

Vua hỏi: - (Nguyễn Văn) Thành và (Nguyễn Văn) Trương có uống rượu với nhau hay không ?

(Nguyễn Văn Trương và Nguyễn Văn Thành) tâu rằng : có

Vua nói: - Ngươi (chỉ Nguyễn Văn Thành - NKT) cho (Nguyễn Văn) Trương uống rượu say, khiến hắn phải nói lầm, (Nguyễn Văn) Trương lại vì say rượu mà nói lầm. Như vậy, lỗi là ở lũ các ngươi chớ (Lê) Chất có lỗi gì đâu ? Ba người nghe vậy thì lạy tạ".

Suốt thời trị vì của Gia Long (1802 – 1819), Lê Chất luôn được trọng dụng. Sang thời Minh Mạng (1820 – 1840), Lê Chất vẫn được coi là một trong những đại thần uy danh lừng lẫy. Sách trên chép tiếp mấy sự kiện về Lê Chất như sau:

“Lúc bấy giờ (đầu thời Minh Mạng - NKT) Vua đang để tâm đến việc dùng văn trị, trọng dụng văn thần, bèn sai bọn Trịnh Hoài Đức tra cứu điển lễ, tâu lên để cho triều thần theo đó mà thi hành. (Lê) Chất và (Lê Văn) Duyệt, mỗi khi vào chầu thường làm sai lễ, đã thế còn cho bọn Trịnh Hoài Đức là đặt chuyện để ton hót với vua, nên cứ thế mà chỉ trích. Vua nghĩ, bọn (Lê) Chất và (Lê Văn) Duyệt đều là đại thần có nhiều công lao nên cũng gác việc qua một bên, vui vẻ đối đãi chớ chưa nỡ bắt tội.

Mùa thu năm Minh Mạng thứ hai (tức năm 1821 - NKT), Vua đi Bắc tuần, nên sai (Lê) Chất (là Bắc thành Tổng trấn - NKT) về trấn trước để lo sắp đặt công việc. Mùa đông năm ấy, Vua đến Bắc thành. Lê (Chất) được Vua ban một con dao bằng vàng Tây chạm khắc rất đẹp và một cây súng mạ vàng.

Bấy giờ có quan Hiệp trấn Sơn Nam Thượng là Lê Duy Thanh ăn của hối lộ và làm việc trái phép. Việc bị phát giác ra, Vua giao cho quan Bắc thành (Tổng trấn là Lê Chất) tra xét. (Lê Duy) Thanh lúc đó cũng nhân được vào chầu Vua (tại Bắc thành), liền khóc lóc trước mặt Vua và tâu xin đổi việc tra xét cho nha khác, vì nếu không sẽ bị quan Bắc thành (Tổng trấn) xử rất nặng. (Lê) Chất hặc tội rằng:

- (Lê Duy) Thanh là kẻ bề tôi nhỏ mọn mà dám tự tiện, ngạo mạn, vô lễ. Vậy, xin chém đầu hắn đế nghiêm giữ kỉ cương của triều đình.

Vua an ủi và hòa giải, sau, sai quan ở Bắc thành cứ việc theo lẽ công bằng mà xét hỏi. (Lê) Chất cùng với Hình Tào cùng tra xét muốn xử (Lê Duy) Thanh vào tội chết. Án chưa kịp dâng lên thì tháng chạp năm ấy, lễ bang giao (với nhà Thanh) đã xong, Vua trở về kinh, sai bộ Hình báo cho các quan ở Bắc thành lấy hồ sơ vụ án (Lê Duy) Thanh giao về cho triều thần nghị án. Sau, ( Lê Duy) Thanh bị kết án phải chịu phát phối đi Quảng Bình. (Lê) Chất nghe tin ấy, muốn dâng lời tấu để xin xét lại, nhưng lại sợ làm việc vượt chức phận của mình nên thôi". ..

“Năm Minh Mạng thứ năm (tức năm 1824 - NKT), con của (Lê) Chất là (Lê) Hậu được tuyển chọn cho làm chồng của Trưởng Công chúa (tức Công chúa Nguyễn Thị Ngọc Cửu, con gái thứ tám của vua Gia Long - NKT). Năm ấy, (Lê) Chất cùng với (Lê Văn) Duyệt dâng biểu xin từ chức Tổng trấn Bắc thành và Gia Định thành. Vua nói:

- Hai thành ấy là chốn trọng địa của phía Nam và phía Bắc, trẫm đang tin cậy mà ủy thác cho các khanh, sao các khanh lại có thể nói ra những lời ấy ?

Hai người quỳ khóc mãi không thôi. Vua hỏi nguyên do (xin từ chức) đến hai ba lần, (Lê) Chất mới tâu:

- Bệ hạ sai tôi vào chỗ chết, tôi cũng không dám từ chối, nhưng việc giữ chức (Tống trấn) ở thành thì thật là tôi không thể đảm nhận được.
Vua hỏi : - Việc gì mà khó đến thế ? (Lê) Chất tâu:

- Chẳng có gì khó cả. Tôi làm được hay không làm được đều là do ở bệ hạ cả mà thôi.

Vua nói : - Thế nghĩa là thế nào ? (Lê) Chất tâu:

- Trước đây có vụ án Lê Duy Thanh, tôi cùng với Hình Tào xử hắn vào tội chết, nhưng khi triều thần nghị án thì (Lê Duy) Thanh được giảm tội, thế là phép nước chẳng còn tin dân nữa. Tôi không thể làm việc được ở Bắc thành nữa cũng vì lẽ ấy.

Vua nói : - Đó là ý chung của đình thần, không phải ý riêng của trẫm.

Nói rồi, sai đem bản án (Lê Duy) Thanh trao cho (Lê) Chất xử lại. (Lê) Chất biết ý Vua giận nên không dám nói thêm gì nữa. Rốt cuộc, (Lê Duy) Thanh vẫn được y án cũ, phải phát phối đi Quảng Bình làm quân tiền hiệu lực".

Mùa thu năm 1826, Lê Chất được phép về nhà lo việc tang cho mẹ. Nhưng về đến Bình Định là quê nhà chưa được bao lâu thì ông mất. Vua Minh Mạng nghe tin ấy, nghỉ chầu ba ngày để tỏ lòng thương xót, đồng thời ban cấp tiền lụa để lo đám tang Lê Chất rất hậu hĩ. Sách trên chép tiếp:

“Mùa đông năm ấy (tức năm 1826 - NKT), giặc ở Nam Định lại nổi lên, Vua đổ lỗi cho (Lê) Chất làm việc cẩu thả nên mới có chuyện như vậy. Vua dụ Nguyễn Văn Trí (người Gia Định, trước cũng là tướng của Tây Sơn, năm 1799 thì theo về với Nguyễn Phúc Ánh, lúc này đang giữ chức Thống chế - NKT) rằng:

- ( Lê ) Chất là đại thần của nước nhà, giao việc trấn giữ ở Bắc Thành mà binh uy không chấn chỉnh, cho nên, nay mới có nhiều giặc đến thế. Vậy mà khi (Lê) Chất còn sống, không một ai dám nói cho trẫm biết là sao ?

(Nguyễn Văn) Trí tâu : - Bề tôi được vua tin thì ai dám hở miệng nói gì. Như tôi đây, dẫu là bất tài vẫn được vua yêu, thế thì đâu phải chỉ một mình (Lê) Chất khiến cho người ta giữ miệng ?

Năm (Minh Mạng) thứ mười bốn (tức là năm 1833 - NKT), giặc (Lê Văn) Khôi chiếm giữ thành Gia Định làm phản. Sang năm (Minh Mạng) thứ mười lăm (tức năm 1834 - NKT), vụ án Lê Văn phát ra. Đến năm (Minh Mạng) thứ mười sáu (tức năm 1835- NKT), quan Tả Thị lang bộ lại là Lê Bá Tú, truy xét và nói rằng, sinh thời (Lê) Chất nói và làm đều vô đạo, không xứng với danh phận của kẻ làm tôi, xin xử (Lê) Chất với sáu tội sau đây:

- Một là (Lê) Chất cùng với Lê Văn Duyệt ngầm mưu làm việc như Y Doãn và Hoắc Quang. Mưu này bị hai đứa ở nói lộ ra, bèn giết bọn chúng đi để hòng lấp miệng thiên hạ.

- Hai là nhiều lần khẩn thiết xin Hoàng tử làm con nuôi của mình, tức là muốn theo mưu khôn của lũ Dương Kiên thuở nào.

- Ba là muốn cho con gái của mình được chính vị ở trong cung nhưng không thỏa nguyện nên nói nhiều điều trách oán.

- Bốn là thường nói với Lê Văn Duyệt rằng : “Người ta bảo, trời cùng với vua và cha mẹ là những bậc mà phận làm tôi, làm con, dẫu có bất bình vẫn không dám giận, vậy mà ta vẫn cứ giận như thường"

- Năm là (Lê) Chất nói rằng : vua có bọn Trịnh Hoài Đức và Nguyễn Hữu Thận, ta chỉ cần vài trăm người vào triều đình, hét to lên một tiếng thì lũ kia tất phải phục xuống đất, ta muốn làm gì ta cứ làm.

- Sáu là dám nói rằng, việc đổi quốc tính (họ của vua- NKT) làm Tôn Thất, chẳng qua chỉ là do bọn Trịnh Hoài Đức bày trò, xúi giục, nhân đó, xin đem bọn này ra đầu cửa miếu mà chém đầu. (Bọn Lê Bá Tú) lại còn buộc cho (Lê Chất) mười tội to nữa. Đó là các tội sau đây:

- Một là khi điềm binh ở Bắc thành, dám lên tận Ngũ Môn mà ngồi ở giữa, không biết giữ đúng lễ của kẻ bề tôi.

- Hai là hàng năm, khi vận chuyển hàng bằng đường biển (từ Bắc vào), dám lấy của riêng để vào thuyền chung để chở.

- Ba là cùng Lê Văn Duyệt dâng biểu xin từ quan để gây khó dễ cho vua.

- Bốn là chuyên quyền ban ơn giáng họa, tước quan chức của lắm người, khiến việc (ở Bắc thành) rối ren.

- Năm là làm việc trái phép, ăn hối lộ, lấy tiền đến hàng ngàn hàng vạn.

- Sáu là tâu bày các việc không hợp lễ, đã có chỉ dụ lệnh vua mà vẫn không nghe, lại còn nạp trả chỉ dụ, phải đợi đến khi Lê Văn Duyệt can ngăn mới thôi.

- Bảy là dám nuôi riêng cung nhân của tiên triều mà không hề biết sợ hãi.

- Tám là dám tiếm làm lầu chuông lầu trống.

- Chín là án Lê Duy Thanh đã nghị bàn xong, thế mà dám cùng Lê Văn Duyệt xin nghị bàn lại.

- Mười là tự tiện điều bổ quân lính đến các phủ. (Lê Bá Tú) xin đem những lời trên cho đình thần bàn nghị để định rõ tội danh cho Lê Chất, khiến cho đến cả trăm đời sau kẻ gian tà còn biết để tự răn mình. Vua dụ rằng:

- (Lê) Chất lòng lang dạ sói, nét rất quỷ quái, làm tôi thì bất trung bất chính, xử sự thì đại ác đại gian, việc gì làm cũng sai trái, ai ai biết đến cũng đều phải nghiến răng, tội lỗi nào phải chỉ có mười sáu điều như Lê Bá Tú nêu đâu. Trước kia, trẫm nghĩ rằng, (Lê) Chất cùng Lê Văn Duyệt, dẫu lòng chúng chẳng đáng kẻ làm tôi mà chẳng có ai phụ họa vào thì tất chúng chẳng dám làm điều ác. Vả chăng, chúng là nhất phẩm đại thần, cho nên dẫu có mưu gian mà bá quan cùng trăm họ chưa ai tố cáo thì cũng không nỡ khép vào trọng tội. Lũ chúng đã bị Diêm Vương bắt đi tưởng như thế là lưới trời thưa mà lọt được, và trẫm cũng chẳng thèm hỏi đến. Nay có người truy xét thì công tội đã có triều đình nghị luận, cốt sao tỏ rõ khi sống bọn chúng đã làm điều trái phép. Tội ấy, cho dẫu là kẻ thân thuộc của chúng cũng phải nhận là xấu xa. Hơn nữa, người ta ai chẳng có chút trí năng để rồi không tức giận chúng, nhưng vì sợ uy của chúng mà không dám cáo giác đó thôi chớ đâu có ai a tòng để chuốc lấy tội chết. Nay, chẳnng cần tra cứu lan man, khiến người vô tội phải họa lây làm gì, đình thần chỉ việc lấy tờ sớ của Lê Bá Tú, dựa vào mười sáu tội đã bị vạch mà định rõ tội danh của mình Lê Chất. Vợ con của hắn cũng chiếu theo luật mà xử, duy đứa con gái lớn đã đi lấy chồng và con trai còn bé nhỏ thì được miễn tội.

Đình thần bàn nghị rằng : (Lê) Chất là kẻ bất trung, đại gian đại ác, nên khép cho sáu tội phải xử lăng trì, tám tội phải xử chém, hai tội phải xử treo cổ, còn con của phạm nhân mà thường ngầm bàn làm chuyện trái phép thì xử lăng trì. Tuy nhiên vì nó đã bị bắt về âm phủ nên xin truy thu bằng sắc, đào mả quan tài và chém xác bêu đầu để răn. Những sắc phong tặng cho cha mẹ hắn đều thu lại. Vợ nó là Lê Thị Sa cũng là kẻ đồng mưu, xin xử chém ngay.

Án làm xong, đưa xuống cho các quan Đốc phủ ở các địa phương để họ đọc và gởi ý kiến vế triều đình, cốt sao việc xét xử được công bằng. Các (quan ở các) địa phương tâu xin y lời nghị bàn của triều thần. Vua lại dụ rằng:

- Xem thế cũng đủ biết rằng lẽ trời chính là lòng người, công luận nghiêm minh chẳng thể dứt. Lũ gian thần nuôi họa, muôn miệng cùng một lời phê, thế cũng đủ biết đây là vụ án minh bạch và thích đáng đến muôn đời. Lê Chất cùng Lê Văn Duyệt dựa nhau làm điều gian manh, tội ác nặng ấy thấm đến tai đến tóc, giá có bổ quan tài của chúng ra mà vằm xác cũng không có gì là quá đáng. Nhưng, (Lê) Chất và (Lê Văn) Duyệt tội ác giống nhau mà trước đây đã không bổ quan tài ra mà chém xác (Lê Văn) Duyệt, thì nắm xương khô của (Lê) Chất, ta cũng chẳng thèm gia hình làm gì. Vậy, sai Bình Phú Tổng đốc là Vũ Xuân Cẩn san bằng mồ mả của (Lê) Chất rồi dựng tấm bia đá lên đó, khắc lớn mấy chữ gian thần Lê Chất phục pháp xứ (nơi gian thần Lê Chất chịu hình pháp) cốt để răn những kẻ gian tặc cho muôn đời. Vợ (Lê) Chất là Lê Thị Sa vốn ở cùng chỗ với chồng nên dự biết mưu gian, nếu có đem xử cực hình cũng là phải, nhưng nó chỉ là đàn bà, không thèm chém vội, vậy, tạm cho Lê Thị Sa cùng lũ con của chúng là (Lê) Cận, (Lê) Trương và (Lê) Kỵ đều được giảm xuống tội trảm giam hậu (giam để sau đem chém - NKT).

Gia sản của (Lê) Chất bị tịch thu. tính ra được 22.000 quan tiền, vua hạ lệnh cho xung công, đồng thời sai Hà Ninh Tổng đốc là Đặng Văn Hòa xuất tiền ấy cứu cấp cho dân nghèo 12 tỉnh Bắc Kì. Trước đó, tỉnh thần bắt (Lê) Thị Sa ra tra hỏi, (Lê) Thị Sa liền thưa rằng:

- Vài mươi năm nay, tôi được đội ơn triều đình, từ đỉnh đầu đến gót chân cho tới da tóc... tất cả đều do triều đình ban cho. Nay, dẫu có thế nào thì tôi cũng cam lòng, bởi tội của chồng tôi cũng tức là tội của tôi, sống chết thế nào cũng xin vâng chịu.

(Lê) Chất trước có con gái tiến vào cung, sinh hạ ra Quỳ Châu Quận công Miên Liên (chỉ việc con gái Lê Chất được tiến vào cho vua Minh Mạng, sinh hạ ra Nguyễn Phúc Miên Liên và Miên Liên được phong làm Quỳ Châu Quận công – NKT). Thị ấy bị tội, phải giam cho đến chết. Con trưởng của (Lê) Chất là (Lê) Hậu lấy Công chúa (Nguyễn Thị Ngọc Cửu nhưng rồi Hậu chết, lũ em của hắn là (Lê) Cận, (Lê) Trương và (Lê) Kỵ đều bị xử chém vào năm Minh Mạng thứ mười chín (tức năm 1838 - NKT). (Lê) Thị Sa bị đưa về nguyên quán làm nô tì, cháu (của Lê Chất) là bọn (Lê) Luận được giảm tội, cho đi vùng biên giới xa xôi là Cao Bằng để làm lính, mãi đến năm Thiệu Trị thứ nhất (tức là năm 1841 - NKT), gặp kì ân xá mới được tha về.”

Lời bàn:

Cứ xét lí lịch cuộc đời thì Lê Chất có bốn lần làm phản. Lần thứ nhất là phản.Tây Sơn mà theo về với Nguyễn Phúc Ánh, nhưng mưu ấy không thành. Lần thứ hai là phản cha vợ, cũng là phản Tây Sơn, khiến cha vợ là Lê Trung bị nghi oan rồi bị giết. Lần thứ ba là phản người xấu số có gương mặt giống mình, bắt phải uống độc dược để chết thế mạng cho mình. Và, lần thứ tư là lần phản Lê Văn Thanh, cũng là phản một vị tướng Tây Sơn đã mở lòng cưu mang mình. Bốn lần làm phản, dẫu bào chữa cách gì cũng khó xóa được vết nhơ. Lê Chất là Lê Chất hỡi, đã có bao giờ ông tự xếp mình vào hạng nào giữa cõi trời cao đất dày này chưa ? Nguyễn Phúc Ánh từng nói, ông là kẻ giảo hoạt khôn lường, hậu sinh chẳng thể vì kém tình với Nguyễn Phúc Ánh mà cho lời ấy là sai được. Vua Minh Mạng cũng ít tin ở ông, hậu sinh chẳng thể vì không thích Vua mà cho sự ấy là sai được.

Sau phen do dự, Nguyễn Phúc Ánh đã dùng ông chẳng qua vì Nguyễn Phúc Ánh biết rõ rằng, ông là người dám chém giết đồng đội cũ của mình không gớm tay. Vua Minh Mạng tiếp tục dùng ông chẳng qua cũng là muốn mượn tay ông để trừng trị lực lượng đối kháng ở Bắc Thành. Tóm lại, ông trước sau chỉ được coi là kẻ võ biền thất đức, có phải là được thực lòng trọng dụng đâu.

Sẽ chẳng bao giờ có vụ án Lê Chất nếu vua Minh Mạng chẳng mớm lời cho lũ tiểu nhân. Trách Lê Bá Tú tâm địa hiểm độc và nịnh hót quá mức, kể cũng chẳng ích gì, bởi vì Vua dùng Lê Bá Tú chẳng qua cũng để khiến hắn mở lời vào những lúc đại để như thế đó thôi. Giá thử như ai cũng tương tự quan Thống chế Nguyễn Văn Trí thì Vua còn biết trông cậy vào đâu ?

(Theo Việt sử giai thoại của Nguyễn Khắc Thuần)

Vụ án Lê Văn Duyệt với bảy tội đáng xử chém

Lê Văn Duyệt là con của Lê Văn Toại, sinh quán là Mỹ Tho (Tiền Giang) nhưng tổ tiên vốn người Quảng Ngãi. Lê Văn Toại có tất cả bốn người con trai, Lê Văn Duyệt là con trưởng. Sử cũ mô tả rằng Lê Văn Duyệt người thấp bé nhưng lại có sức mạnh hơn người.

Ông được coi là hoạn quan nhưng ngay khi mới sinh ra, ông đã là người thuộc loại ái nam ái nữ chứ không phải là chịu hoạn khi làm quan. Năm 1780, khi Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi vương ở Gia Định. Lê Văn Duyệt (lúc này mới 16 tuổi) được chọn làm quan Thái giám. Từ đó trở đi, cuộc đời của Lê Văn Duyệt gắn bó chặt chẽ với Nguyễn Phúc Ánh. Nhờ có biệt tài cầm quân, Lê Văn Duyệt dần dần trở thành một võ tướng xuất sắc. Điều này, chính Nguyễn Phúc Ánh cũng không ngờ. Lê Văn Duyệt được Nguyễn Phúc Ánh tin cậy mà giao việc chỉ huy Tả quân, đồng thời, nhiều phen trao quyền Tiết chế, điều khiển cả các danh tướng như Nguyễn Văn Thành, Lê Chất... Khi Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi Hoàng đế, lấy hiệu là Gia Long. Lê Văn Duyệt được trao phó rất nhiều trọng trách, trong đó, trọng trách mà Lê Văn Duyệt đảm nhận lâu dài nhất là Tổng trấn Gia Định, tức đứng đầu toàn bộ hệ thống chính quyền của triều Nguyễn ở vùng Nam Bộ ngày nay. Sau khi Lê Văn Duyệt mất (30 - 7 - 1832), chức Tổng trấn Gia Định bị bãi bỏ, Gia Định được chia làm sáu tỉnh (gọi là Nam Kì lục tỉnh), mỗi tỉnh có một tổ chức chính quyền trực thuộc hẳn vào triều đình trung ương.

Suốt một đời làm quan, hẳn nhiên là cũng có lúc Lê Văn Duyệt bị phạm lỗi, nhưng mức độ nặng nhất thì cũng chỉ là phê bình, nhưng khi đã nhắm mắt xuôi tay, Lê Văn Duyệt lại bị xét xử với một bản án hết sức nặng nề. Vụ án Lê Văn Duyệt có nguồn gốc trực tiếp từ cuộc khởi binh của con nuôi Lê Văn Duyệt là Lê Văn Khôi tại Gia Định, sau khi Lê Văn Duyệt đã qua đời. Mặc dù không hề can dự, và mặc dù việc Lê Văn Khôi khởi binh cũng có phần vì những hành vi ngang ngược của các quan lại do triều đình phái đến, nhưng Lê Văn Duyệt vẫn bị coi như là thủ phạm chính. Sau nhiều phen bàn nghị, Lê Văn Duyệt bị xử với 7 tội đáng chém, hai tội đáng đem đi treo cổ, ngoài ra, còn nhiều hình phạt khác nữa. Bản án Lê Văn Duyệt được sách Đại Nam chính biên liệu truyện (Sơ tập, quyển 3) chép lại như sau:

“Đình thần nghị án để dâng lên, chỉ rõ những lời nói và việc làm bội nghịch (của Lê Văn Duyệt), buộc bảy tội đáng xử chém là:
  1. Dám sai người của mình, tự tiện đi Miến Điện để làm các việc ngoại giao (vốn là chức trách của triều đình).
  2. Xin được đưa tiễn thuyền của nước Anh Cát Lợi (tức nước Anh - NKT) về đến thành (Gia Định) để tỏ rõ là có quyền.
  3. Xin giết Thị vệ là Trần Văn Tình để khóa miệng người.
  4. Kháng sớ tâu xin giữ người đã được (triều đình) triệu về để bổ làm quan.
  5. Chứa riêng khống chỉ có đóng sẵn ấn của vua.
  6. Cậy bè đảng riêng mà xin tăng thọ cho Lê Chất.
  7. Gọi mồ cha của mình là lăng, đồng thời, khi nói chuyện với mọi người dám tự xưng mình là cô.
(Lê Văn Duyệt) còn bị xử phải đem treo cổ vì hai tội sau:
  • Cố xin dung nạp bọn người Miến Điện để làm chuyện bất minh. 
  • Dám nói với mọi người rằng mình từng xin được thơ tiên, trong đó có câu nhắc chuyện hoàng bào ở Trần Kiều.
Xử tội phải bắt làm lính vì đã tự tiện sai binh sĩ đi đóng thuyền cho mình.

Xử tội phải đem xẻo thịt cho chết bởi (Lê Văn) Duyệt là kẻ đầu sỏ, là cội nguồn của cuộc biến loạn ở Phiên An (chỉ việc khởi binh của Lê Văn Khôi - NKT) nhưng vì hắn đã bị Diêm Vương bắt đi rồi (ý nói đã chết - NKT ) nên xin thu hết bằng sắc rồi đào mả; lấy quan tài ra chém xác để làm gương răn đời. Tất cả những sắc phong cho ông bà tổ tiên hắn đều phải thu lại. Mồ mả tổ tiên hắn, nếu có tiếm xây trái phép đều phải đập phá đi. Những thê thiếp và con cháu gọi hắn bằng chú hoặc bằng bác đều theo thứ tự thân sơ mà xử tội. Tài sản của hắn thì tịch thu hết.

Án dâng lên, những người xin xử chém (Lê Văn Duyệt) đều xin giảm xuống hình phạt bắt giam để sau đem chém và những ai ở hàng thân thuộc từ mười lăm tuổi trở xuống thì chỉ xin tạm bắt giam, bé quá chưa biết thì thôi, không bắt. Mười ba người đàn bà lúc đầu bị phạt bắt làm nô tì, sau cũng xin cho thả cả. Việc đào mồ lấy quan tài lên để chém xác cũng không thi hành.

Vua sai bộ Hình sao bản án này gởi xuống tận các tỉnh, cho phép các quan Đốc và quan Phủ được quyền dâng ý kiến riêng của mình lên. Kết quả như sau:

- Lạng Bình Hộ phủ là Trần Huy Phác xin chém ngay thê thiếp và con cháu của (Lê Văn) Duyệt, còn thì xin theo lời đình nghị.

- Quảng Yên Hộ phủ là Dục Đức tâu xin chém những kẻ phạm tội từ mười sáu tuổi trở lên, còn thì xin theo lời đình nghị.

- Bình Phú Tổng đốc là Vũ Xuân Cẩn và Ninh Thái Tổng đốc là Hoàng Văn Trạm nói đại để là xin theo lời đình nghị, tuy nhiên cũng có thể cho lấy công bù tội, hoặc giả là châm chước thêm bớt thế nào thì xin nhờ ở ơn trời.

Vua (đọc những ý kiến trên) dụ rằng : như vậy là lẽ trời không sai, đạo chung ở lòng người, thật khó mà che được. Kẻ quen gieo ác, thiên hạ cùng giận, muôn lời cùng dâng về đây. Tất cả cùng một ý, tỏ rằng án này đúng mãi với muôn đời. Tội ác của Lê Văn Duyệt nhiều còn hơn cả tóc, thật khó mà đếm nổi, chỉ nghĩ tới đã đau lòng, giá có đập quan tài, lấy xác ra mà chém cũng chẳng có gì quá đáng. Song, trẫm nghĩ là nó chết cũng đã lâu, trước đã bị Diêm Vương làm tội, lại đã bị (triều đình) lột hết quan chức, còn nắm xương khô trong mồ ta cũng chẳng thèm gia hình. Nay, sai Tổng đốc tỉnh Gia Định đến chỗ mồ hắn, san bằng đi rồi dựng lên đó tấm bia đá khác tám chữ quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xứ (nơi hoạn quan Lê Văn Duyệt chịu hình phạt). Làm như thế để tỏ tội danh sau khi chết, đồng thời để phép nước cho đời sau, khiến những kẻ gian ngoan vạn lần lo sợ mà tự răn mình...".

Lời bàn:

Vì sao có vụ án Lê Văn Duyệt và bản án dành cho Lê Vền Duyệt nặng nhẹ hoặc đúng sai thế nào, xin kính nhường lời bàn cho bạn đọc. Điều cần nói thêm ở đây chỉ là : những gì được coi là tội trạng không thể dung thứ của Lê Văn Duyệt, đều xảy ra khi Lê Văn Duyệt còn sống. Bấy giờ, vua chỉ một lần phê bình còn các quan thì không ai coi Lê Văn Duyệt là người có tội cả. Nếu bảo lúc ấy ai ai cũng sợ uy Lê Văn Duyệt nên biết đấy mà chẳng dám nói ra, thì xin tặng mỗi vị một chữ : hèn ! Nếu bảo lúc ấy chưa ai thẩy hết sự nguy hiểm và tính ác độc trong hành vi của Lê Văn Duyệt thì xin tặng hương hồn mỗi vị một chữ : kém !

Còn như xét tội mà tùy theo sở thích nhất thời của một người nào đó, thì trăm lạy các quan, chính trường lẽ đâu lại giống những màn hài kịch đến thế.
(Theo Việt sử giai thoại của Nguyễn Khắc Thuần)