Hiển thị các bài đăng có nhãn Thành ngữ - Tục ngữ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thành ngữ - Tục ngữ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 9 tháng 10, 2014

Lươn ngắn lại chê chạch dài, thờn bơn méo miệng chê trai lệch mồm

Trong cuộc sống, chắc các bạn đã từng nghe câu “Lươn ngắn lại chê chạch dài, thờn bơn méo miệng chê trai lệch mồm”. Ý nghĩa của câu thành ngữ này là gì? Mời các bạn tham khảo phần giải nghĩa dưới đây.
Câu thành ngữ này hàm ý chỉ kẻ không biết người, biết mình, chỉ biết chê người chứ không biết mình cũng có tật như người.


Chuyện kể:

Cá chép sau khi hóa rồng mới trở về vùng sông nọ tổ chức một cuộc thi sắc đẹp cho muôn loài sống dưới nước nhân vào kỳ vũ cốc. Ban tổ chức sau khi đánh giá sơ khảo, cuối cùng thì cũng tuyển chọn được con lươn và con chạch vào một cặp, con trai và con cá thờn bơn vào một cặp. Cả hai cặp thi này đều có thân hình hơi giống nhau.

Đối với cặp lươn, chạch, ban tổ chức xét đi xét lại các tiêu chí thì cái gì cũng một chín một mười, nên cuối cùng ra tuyên bó kẻ nào có thân ngắn hơn thì sẽ là kẻ trúng tuyển. Chạch sướng quá vọt lên khỏi bùn. Con lươn tuy thế không chịu bèn lươn lẹo cãi: “Con chạch mới là giống dài người, tôi đâu có đuôi, chạch nó có vây đuôi, sao tôi lại dài hơn nó được”. Hai con từ bấy cãi nhau một hồi, khiến ban tổ chức phải cầm thước đo, lươn mới chịu. Chấm đến cặp thờn bơn và trai, so đi tính lại hai con mình cũng mỏng. Con thì miệng há ra, con thì ti hí cái mồm, chẳng con nào chịu kém con nào, ban tổ chức mới tính chuyện con nào mồm miệng cân đối thì cho thắng cuộc. Lúc ấy chị thờn bơn mới nói: “Miệng tôi là cân đối nhất. Cái trai kia, mồm nó lệch hẳn một bên sao đẹp được”. Con trai và con thờn bơn lại lên diễn đàn cãi nhau, không con nào chịu con nào khiến ban tổ chức đau đầu phân định. Lúc đó cá chép vốn có kinh nghiệm phân giải mới tuyên bố: “Lươn ngắn sao chê chạch dài, thờn bơn méo miệng chê trai lệch mồm”. Thôi giải tán!

Câu này là cách nói hoán dụ. Con lươn dài hơn con chạch lại chê chạch dài, con cá thờn bơn mồm vẹo một bên lại chê trai lệch mồm. Như vậy cái không thể có cứ cãi là có, đó là cãi chày cãi cối. Truyện này dựa vào đặc điểm hơi giống nhau của lươn, chạch, trai, thờn bơn thành ra thành ngữ để răn đời. Thế nên mới có câu: Chuột chù chê khỉ rằng hôi, khỉ mới trả lời cả họ mày khôn! Những kẻ không hơn, thậm chí không bằng người khác mà vẫn cứ lên giọng chê người, thật đáng ghét!

Theo: Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh - NXB Thông tấn

Thứ Hai, 6 tháng 10, 2014

'Mất bò mới lo làm chuồng' nghĩa là sao?

Trong cuộc sống, chắc các bạn đã từng nghe câu 'Mất bò mới lo làm chuồng'. Ý nghĩa của câu thành ngữ này là gì? Mời các bạn tham khảo phần giải nghĩa dưới đây.
Câu thành ngữ “Mất bò mới lo làm chuồng” chỉ kẻ không biết lo liệu đề phòng trước, để việc hỏng rồi mới ứng cứu, lo liệu phòng thân. Cũng hàm ý chỉ kẻ dốt nát.


Chuyện kể:

Nhà kia tích cóp mua được con bò đẹp, ưng lắm, chăm bẵm suốt ngày. Tối đến, chủ nhà dắt bò buộc vào gốc tre cạnh nhà. Thằng trộm mấy lần rình, đợi khi cả nhà ngủ say, nó tháo dây thừng dắt bò đi mất. Sáng ra ngủ dậy không thấy bò đâu, nhà kia tức lắm. Người hàng xóm sang chơi thấy vậy bảo:

- Chẳng là bác không có chuồng để ngăn kẻ trộm, chứ buộc vào gốc tre thì nó dắt mất là phải.

Nhà kia nghe ra cho là phải, bèn đi mua cột cây về dựng giữa vườn một cái chuồng bò. Vừa làm anh ta vừa nói:

- Phen này thì thằng trộm kia đó mà dắt được bò của ông đi.

Người hàng xóm sang, cả cười:

- Bác mất bò rồi thì làm chuồng làm gì cho phí công, phí của.

Người mất bò lúc ấy mới mới ngớ ra mình làm gì còn bò nữa mà làm chuồng, đành lại dỡ xuống. (1)

Chuyện như bịa nhưng vẫn có trong cuộc sống. Ở đời nhiều người vẫn chẳng phòng xa, khi hỏng việc, cháy nhà, vỡ nợ, sụt cầu hoặc mất của rồi mới có ý đề phòng cẩn thận, lúc ấy, mọi sự đã trỏ nên quá muộn. Chả trách dân gian mới có câu “Cháy nhà mới đi tìm nước”, “Mất bò mới lo làm chuồng” là vậy.
Theo Đi tìm điển tích thành ngữ của Tiêu Hà Minh - NXB Thông tấn
(1) Theo “Truyện cổ nước Nam” Ông Như Nguyễn Văn Học – NXB Văn học, 2003

------------
Thành ngữ Việt Nam có câu “Mất bò mới lo làm chuồng”, chỉ những trường hợp không biết lo xa, không phòng bị trước, đến khi chuyện xảy ra gây hậu họa mới vội vàng tìm cách đề phòng. Còn người Trung Quốc lại nói: “Mất dê mới lo làm chuồng” (tiếng Hán là “Vong dương bổ lao”). Chuyện kể rằng, ngày xưa ở Trung Quốc có người nuôi một đàn dê. Một buổi sáng ông phát hiện trong đàn thiếu một con. Sau khi xem xét thấy chuồng dê thủng một lỗ nên ban đêm chó sói chui vào bắt dê. Hàng xóm khuyên làm lại chuồng nhưng ông ta không nghe và còn nói rằng đằng nào cũng mất dê rồi, sửa chuồng làm gì nữa? Sáng hôm sau, ông ta lại bị mất dê tiếp, lúc ấy ông ta mới vội lo đi làm chuồng!

Thời Chiến Quốc, Sở Tương Vương chỉ nghe gian thần, suốt ngày hoan lạc mà không ngó ngàng đến quốc gia đại sự khiến đất nước ngày càng suy yếu. Lão thần Trang Tân không đành lòng nhìn thấy nước Sở như vậy đã khuyên vua bỏ lạc thú, đuổi gian thần để lo chính sự. Sở Tương Vương không những không nghe lời can gián của Trang Tân mà còn mắng nhiếc ông thậm tệ và đuổi đi. Trang Tân bèn đem gia quyến chạy sang nước Triệu. Một thời gian sau, nước Tần đem quân đánh nước Sở đến nỗi Sở Tương Vương phải chạy đến tận Dương Thành. Lúc bình tâm nghĩ lại và nhớ đến lời can gián của Trang Tân, Sở Tương Vương vô cùng hối hận, bèn cho người tìm Trang Tân về. Trang Tân thấy vua có ý hối cải mới kể câu chuyện người nuôi dê nói trên và phân tích sai lầm của Sở Tương Vương. Cũng may Vua nghe xong tỉnh ngộ, kịp thời khắc phục sai lầm và tập trung chấn hưng đất nước.

Sưu tầm

Thứ Bảy, 4 tháng 10, 2014

'Ăn cháo đái bát' nghĩa là sao?

Một ai đó, khi được người khác giúp đỡ thoát khỏi khó khăn, hoạn nạn mà sau đó lại phụ ơn, bội nghĩa thậm chí phản lại ân nhân của mình, thì dân gian thường phê phán, chỉ trích bằng thành ngữ ăn cháo đái bát. 
Thành ngữ "ăn cháo đái bát" gồm hai vế: vế thứ nhất nói về việc nhận ân nghĩa (ăn cháo), về thứ hai nói về sự bội bạc ân nghĩa đó (đái bát). Về thành ngữ này, một số người còn băn khoăn, không hiểu dạng đích thực của nó là ăn cháo đái bát hay ăn cháo đá bát. Thực ra, điều đó chẳng có nghĩa lý gì, bởi vì hành vi đái bát hay đá bát đều biểu thị sự phũ phàng đến thô bạo của người đời. Dĩ nhiên, hành vi đái bát gây ấn tượng mạnh mẽ, nặng nề hơn và phù hợp với cách nói khoa trương, phóng đại mà dân gian vẫn ưa dùng. Hơn nữa, trên thực tế sử dụng, hầu như ta chỉ gặp dạng ăn cháo đái bát mà thôi.

Như vậy, chẳng cần biện luận nhiều, chúng ta cũng dễ dàng chấp nhận dạng thức ăn cháo đái bát là dạng đích thực của thành ngữ đang xét. Vấn đề đáng quan tâm hơn là tại sao dân gian lại dùng cụm từ ăn cháo để biểu hiện việc ân nghĩa? Có bao nhiêu thứ khác, quý hiếm hơn, đáng giá hơn sao không được chọn dùng, trong khi đó lại dùng cháo , một thức ăn bậc thấp nhất, để chỉ cái ân cái nghĩa do người khác mang lại? Thông thường cháo là món ăn nhẹ, dễ tiêu thích hợp với người bệnh đuối sức, không ăn được cơm. Bát cháo từ tay người khác mang lại chăm sóc lẽ nào người bệnh chẳng biết nâng niu trân trọng? Lại nữa cháo trong dân gian các cụ bà thường dùng để cúng lễ ở các miếu dưới gốc đa, sau đó ban phát cho trẻ để lấy phước. Vì thế mà có chuyện “cướp cháo gốc (lá) đa”. Khi gặp nạn đói kém nhiều người quẫn bách cơm không có ăn, áo không có mặc, sống thoi thóp trong hoạn nạn, những người có lòng nhân đức thường nấu cháo để phát chẩn, giúp cho người bị nạn bát cháo cầm hơi. Bát cháo cứu giúp con người ra khỏi cái đói đến chết người cũng chẳng đáng ghi lòng tạc dạ hay sao? Một miếng khi đói bằng mót gói khi no là thế! 

Những điều liên tưởng ở trên cho thấy cách lập ý lập tứ của thành ngữ ăn cháo đái bát vừa cụ thể vùa rất sâu sắc. Với quan niệm sâu kín đó, nhân dân đã khéo léo tạo nên một sự đối lập gắt gao giữa một bên là ân nghĩa với một bên khác là hành vi phụ bạc đến mức thô bạo nhằm toát lên giá trị phê phán của thành ngữ ăn cháo đái bát đối với những kẻ sống không có trước có sau, sống vô ơn bạc nghĩa.
Cùng nghĩa với ăn cháo đái bát, trong tiếng Việt còn có những thành ngữ như qua cầu rút ván, qua sông đấm vào sóng... Tuy vậy, khi sử dụng cần chú ý đến sự khác nhau rất tinh tế về sắc thái ý nghĩa của chúng.
Theo: Tạp chí Quê Hương

Xem thêm:
Ăn cháo đái bát hay ăn cháo đá bát?

Cách đây mấy năm, khi tôi viết trong một truyện ngắn của mình câu "Quân ăn cháo đái bát" (đái có chữ i). Truyện đăng lên, ngay sau đó có một người (theo tôi biết là có trình độ ít nhất là cử nhân văn khoa) phê phán tôi là tục. Rất gay gắt. Theo ông ta thì phải là "ăn cháo đá bát" (đá không có chữ i).

Vậy thì ĐÁ hay ĐÁI? Đâu là hay? Đâu là chấp nhận được?

Để tiếp tục đề tài này, tôi xin được kể một câu chuyện «cũ», chứ không phải « cổ ». Khi tôi đi học, buổi học đầu tiên trong đời, nửa buổi tôi mắc « toilette » quá, phải đứng lên xin phép : « Thưa cô cho em đi đái ! ». Cô giáo trừng mắt nhìn tôi, làm tôi suýt nữa thì… « toilette » ra quần! Kèm theo đó là một lời giải thích :

- Em Quang không được nói thế ! Phải gọi là « đi giải ».

Tôi mang theo nền văn minh « đi giải » trong suốt cuộc hành trình, nhưng không lúc nào quên được cái tiếng « đái », mà cha mẹ tôi đã truyền cho, từ khi bập bẹ tiếng người. Cho nên khi đến với văn chương tôi quên mất « văn hoá đi giải » của bài học vỡ lòng.

Sao người ta lại có vẻ kị chữ « đái » thế nhỉ ? Thì cứ bình thường xem nào ! Chắc chắn chữ « đái » không phải là chữ « tục » nhất rồi. Có người họ Đái, nhà văn Đái Đức Tuấn. Loài phong lan đẹp nhất có tên là « lan đái châu - chuỗi ngọc» (sau bị gọi chệch ra là tai trâu – vô nghĩa).

Bây giờ đi vào bản chất. « Đá » hay « đái » đúng hơn, sát nghĩa hơn, hay nói theo ngữ pháp tiếng Việt là đảm nhiệm vai trò đắc dụng nhất ?

Hồi đó, tôi nhất quyết cãi là « đái » – có « i ». Nhưng không báo nào đăng bài cãi của tôi, lại không có blog như bây giờ, nên tôi đành im. Với lại, lâu dần mình thấy nó cũng có «cái lý của người Mèo».

Cho đến một lần tôi về quê – lại viện đến quê vậy. Mùa đỗ, là tháng Tư, đầu hè, nóng bức ngốt người, đậu đen, đậu trắng ngan ngát, tôi bàn :

- Hôm nay nhà mình không ăn cơm, nấu nồi cháo đậu trắng ăn cho nó mát.

Mùa hè lười ăn thật, thế là cả nhà đồng ý. Sáng hôm sau, mẹ tôi phàn nàn :

- Gớm, hôm qua chúng mày cho tao ăn cháo, đi đái cả đêm.

Tôi ngớ người. « Cái lý của người Mèo » đây rồi. Đơn giản là : ăn cháo thì đi đái liền. Chứ ăn cơm, ăn bánh mì sandwich có thể còn lâu mới đi đái.

Ngày nay, cháo là đồ ăn cao cấp, nhưng trong quá trình đói khổ của người Việt, cháo là thứ để dùng cho khiđói. Ăn cháo cầm hơi, cúng cháo lá đa, ăn một bát cháo chạy ba cánh đồng… Tức là rẻ mạt nhất.

Ráp tất cả lại, ta được một tình huống như sau :

Một kẻ đang đói rã họng, được cho một bát cháo, để cầm hơi, thoát chết . Ăn xong rồi, mắc đái quá, và tiện thể, y đái luôn vào cái bát mà mình vừa đựng cháo mà y vừa ăn xong . Hỏi còn sự vô ơn, phản bội nào bằng.

Nhưng ta lại xem sang tình huống khác là « Ăn cháo đá bát ». Kẻ kia đứng dây, đá cái bát mà mình vừa đựng cháo. Vô ơn thật rồi. Nhưng nếu ta cho y ăn cơm, y cũng đá bát đựng cơm. Ta cho y ăn phở, y cũng đá cái tô. Ta cho y hút thuốc lào, y cũng quẳng điếu. Ta cho y ngủ nhờ, y cũng đập giường. Và mãi mãi, cái gì cũng có thể biến thành thành ngữ được.

Dân ta còn một câu nữa « Qua sông đấm b. vào sóng ». Câu này tục thật. Nhưng cần thiết vẫn phải dùng. Nó có lý của nó. Qua sông thì phải bơi, mà bơi thì phải cởi quần. Đấy, « người Méo lại có lý » rồi.

Đến đây, thì tôi càng tin rằng tôi dùng thành ngữ đắc địa.

Cũng không nên bàn đúng sai ở đây. Cái nào hay thì ta chơi!

-----
Tác giả: Hoàng Đình Quang



Thứ Sáu, 3 tháng 10, 2014

'Vừa ăn cướp vừa la làng' nghĩa là sao?

Trong cuộc sống, chắc các bạn đã từng nghe câu “vừa ăn cướp vừa la làng”. Ý nghĩa của câu thành ngữ này là gì? Mời các bạn tham khảo phần giải nghĩa dưới đây.
Ngoài câu “vừa ăn cướp vừa la làng”, trong tiếng Việt còn có các Thành ngữ: "Vừa đánh trống vừa ăn cướp" hay "Vừa đánh trống vừa la làng".
Trong cuộc sống chẳng thiếu gì kẻ xấu, ma lanh, gian xảo. Có kẻ đã ăn cướp của người khác rồi lại còn lu loa lên như thể mình bị mất của, để đổ vấy cho kẻ khác là phạm nhân. Thêm nữa, có kẻ làm trò cướp giật, bị đuổi bắt lại khôn khéo nhập đám đuổi bắt, thậm chí còn đóng cả vai người đánh trống ngũ liên, hô hoán đuổi bắt cướp. Cứ như thế, trong cuộc sống, trong văn học dân gian đã xảy ra bao nhiêu chuyện phiền nhiễu oái oăm, chướng tai gai mắt. Người mất của đôi khi bị oan uổng, bị đánh đập tàn nhẫn, bị trừng trị nhầm. Rõ là tiền mất tật mang. Trái lại kẻ ăn cướp do ma lanh mà đã kiếm chác được của cải lại còn được cảm thông, an ủi, thậm chí đôi khi được tiếng là có công bắt cướp. Những thủ đoạn gian xảo đó được gọi bằng cái tên đích thực là vừa ăn cướp vừa la làng hay vừa đánh trống vừa ăn cướp. Do ra đời gắn liền với những vụ việc có thật trong cuộc sống như thế, các thành ngữ này trước hết được dùng để chỉ những thủ đoạn của bọn ăn cướp, vừa cướp của lại vừa vu oan cho người bị mất là kẻ ăn cướp hoặc vừa ăn cướp lại còn tham gia đuổi cướp tỏ ra là kẻ có công. Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng, thành ngữ "vừa ăn cướp vừa la làng", "vừa đánh trống vừa ăn cướp" được sử dụng với nghĩa khái quát hơn hàm chỉ những hành vi cố ý làm việc ác lại còn lớn tiếng vu cáo kẻ khác, làm ra vẻ như mình là nạn nhân. Đó là hành vi đổi trắng thay đen, đánh lừa dư luận.

Cùng với các thành ngữ "vừa ăn cướp vừa la làng", "vừa đánh trống vừa ăn cướp", trong tiếng Việt còn có thành ngữ "vừa đánh trống vừa la làng". Thành ngữ này có ý nghĩa và cách dùng tương tự các thành ngữ đã xét ở trên.

Về con đường hình thành thành ngữ "vừa đánh trống vừa la làng" có thể lí giải theo hai hướng. Thứ nhất, thành ngữ này là kết quả giao kết, tương hợp giữa hai thành ngữ "vừa ăn cướp vừa la làng" và "vừa đánh trống vừa ăn cướp". Thứ hai, thủ đoạn la làng đổ vấy tội cho người khác, lối giả vờ đuổi cướp bằng hình thức hô hoán, đánh trống của chính kẻ cướp vốn rất phổ biến, lặp đi lặp lại trong cuộc sống đã được người đời nhận thấy và lấy làm đặc trưng cho thủ đoạn của những kẻ chuyên hành động theo lối rắn đổ nọc cho lươn. Rốt cuộc, ở câu thành ngữ "vừa đánh trống vừa la làng" không nói gì đến chuyện cướp bóc, không có sự đánh giá xấu hay tốt nhưng lại hiển hiện lên hành vi xấu, thủ đoạn gian manh của kẻ cướp nói riêng, lũ người xấu nói chung. Đó cũng chính là lời cảnh tỉnh người đời phải biết sáng suốt suy xét, đánh giá đúng thủ đoạn của kẻ xấu để đối xử đúng, không lẫn lộn vàng thau.
Theo: Tạp chí Quê Hương

Thứ Năm, 2 tháng 10, 2014

'Ăn cơm chúa, múa tối ngày' nghĩa là sao?

Trong cuộc sống, chắc các bạn đã từng nghe câu “Ăn cơm chúa, múa tối ngày”. Ý nghĩa của câu thành ngữ này là gì? Mời các bạn tham khảo phần giải nghĩa dưới đây.
Chúa cho ăn, chúa cho mặc, thì cứ hát, cứ múa cho vui tai thích mắt chúa trọn ngày! Đó là tư tưởng phục vụ và trả công của những người "nghệ sĩ chuyên nghiệp" ngày xưa. Họ được chúa nuôi để đàn hát, nhảy múa làm trò tiêu khiển mà lại! Tinh thần đó được phản ánh qua câu thành ngữ ăn cơm chúa múa tối ngày. Chúa trong câu thành ngữ này là ông chủ quyền quý nói chung, mà trước hết là các bậc vua chúa.

Bởi chung, ngày xưa các bậc vua chúa đều có đội ca kĩ, các cung tần mĩ nữ múa hát mua vui. Nhưng chẳng cứ gì vua chúa mới có đám ca hát này mà ngay cả các lãnh chúa từng vùng cũng có. Rồi, chúa đôi khi cũng chỉ là những người ở thôn xã, bỏ tiền ra thuê các con hát, gánh hát phục vụ trong một thời gian ngắn, nhân dịp lễ, tết hay nhân các công chuyện lớn trong gia đình, trong họ hàng. Dẫu được hát, được múa trong cung vua, phủ chúa hay trong các điền trang, các nhà quyền quí ở thôn quê, thì bọn họ đều là tôi tớ được họ nuôi nấng, có cơm ăn, áo mặc, do đó cũng có phận sự phục vụ các ông chúa bà chủ.

Có lẽ, thoạt tiên, thành ngữ ăn cơm chúa múa tối ngày chỉ phản ánh một hiện thực là đội ca kĩ suốt ngày đêm múa hát phục vụ vua chúa, và các gia chủ. Cùng với hiện thực đó còn là tinh thần trách nhiệm, bổn phận của kẻ tôi đòi đối với chủ, và không ngoại trừ tinh thần "yêu ngành yêu nghề" và cảm hứng nghệ thuật với họ. Thế nhưng, trong mắt người đời, những con người này thuộc lớp người bị coi là thấp hèn, là "xướng ca vô loài".

Lại nữa, sự múa may quay cuồng suốt ngày, đối với người ngoài cuộc, chẳng có nghĩa lý gì mà chỉ là chuyện tầm phào và vô tích sự. Kẻ đứng ngoài cuộc, hẳn là chẳng ai tin trong lời hát kia, trong điệu múa nọ là kết quả của tinh thần tận tâm, tận lực, là sự say mê, yêu thích với cảm hứng nghệ thuật do bản mệnh ngành nghề đưa đến. Ngược lại, họ dễ dàng gán ghép hoạt động của người nghệ sĩ cũ tính chất chán chường, cố cho xong chuyện, cho hết ngày để khỏi thất thố với đồng tiền, bát cơm, manh áo của chủ bỏ ra. Thực hư thế nào chỉ có bản thân các ca sĩ, các vũ nữ mới biết đích thực, chân xác.

Dẫu vậy, với quan sát riêng, nhận thức riêng với cách đánh giá riêng của người đời thì vẫn cứ tồn tại hiển nhiên một thực tế là ăn cơm chúa múa tối ngày, biểu thị lối làm quấy quá cho xong chuyện, cho hết ngày, lối làm việc chỉ chú ý tới thời gian mà không chú ý đến hiệu quả. Cách làm ăn đó không còn phù hợp với cuộc sống hôm nay, cho nên cần phải đả phá, loại bỏ.

“Công trường không phải là nơi ăn cơm chúa múa tối ngày, tiền công ở công trường cũng không phải là nước sông gạo chợ mà là ở đâu cũng mồ hôi nước mắt của nhân dân cả thôi” 
(Bàng Sĩ Nguyên, “Niềm vui”).

------


Tương truyền, ở một phủ chúa nọ, có một quan thái giám dâng cho chúa một con công quý.

Con công không những đẹp sặc sỡ mà còn có điệu múa chẳng khác gì kỹ nữ.

Từ ngày có con công, chúa quên cả đội kỹ nữ, suốt ngày thả công ra khuê văn để xem công xoè cánh, xoè đuôi, liệng chân, lấy làm mãn nguyện lắm.

Một con vẹt trong vườn thượng uyển ngày ngày nhìn thấy công múa, quanh đi quẩn lại chỉ có mỗi một điệu chán ngắt.

Một hôm, vẹt mới bay lại gần công nói:

Chị công ơi, chị đẹp sặc sỡ là vậy.

Nhưng tôi thấy chị chỉ có mỗi điệu xoè cánh, xoè đuôi, liệng chân.

Ngày nào cũng vậy sao hả chị công?

Công mới nghển cổ, vênh mỏ lên mà rằng:

Tôi ăn nhà chúa, ngủ nhà chúa.

Ngày ngày chỉ có việc xoè đuôi, xoè cánh ra.

Việc chỉ có vậy.

Chẳng mất công luyện rèn học hành gì mà lại được ăn ngon.

Còn gì hơn thế nữa.

Vẹt mới nói:

Thế chị làm mãi vậy, không biết chán à?

Công vẫn dương dương tự đắc:

Tôi múa cũng quen rồi.

Cả ngày chỉ có vậy, từ sáng đến tối.

Có gì mà phải phàn nàn.

Cứ xem như các cô kỹ nữ trong phủ cũng vậy, ngày nào cũng múa.

Hết ngày lại đêm, các cô cóc kêu ca gì đâu.

Phong cách “ăn cơm chúa, múa tối ngày” dành cho những người làm việc quấy quá, không hiệu quả, cốt cho xong việc, giống như:

Ăn nhà chúa, ngủ nhà quan
Ngày ngày vác mặt ra làng rêu rao


Theo: Báo Quê Hương Online

Thứ Tư, 1 tháng 10, 2014

'Bán lợi mua danh' nghĩa là gì?

Trong cuộc sống, chắc các bạn đã từng nghe nói 'Bán lợi mua danh'. Ý nghĩa của câu này là gì? Mời các bạn tham khảo phần giải nghĩa dưới đây.
Bán lợi, lợi đây không chỉ cái vật chất mà có cả tinh thần, để mua lấy một sự danh giá. Bây giờ nâng cao hơn một bước là mua danh, trục lợi người ta khái quát thành chữ “chạy”. Cái sự mua danh trục lợi, chạy chức, chạy quyền tồn tại trong xã hội đối với những kẻ phàm phu.

Dưới thời phong kiến, người ta nộp tiền hay lễ vật cho người có chức vị cao để được ngôi thứ, chức vị.

Nghĩa bóng: Ham danh, dùng tiền của để mua danh vị.

Các câu gần nghĩa: Mua danh ba vạn; Bán chỗ nằm mua chỗ ngồi; Bán gia tài, mua danh diện; Mua danh bán lợi.
Chuyện kể:

Một nhà địa chủ nọ thấy quan chánh tổng oai lắm, lúc nào cũng áo the khăn xếp, lại còn tay cầm cái ba toong chỉ trỏ, đám sai nhân trong nhà, quan lớn, quan bé trong làng đều răm rắp làm theo những lời phán ngông nghênh của chánh tổng. Ở làng, cứ mỗi năm hai lần, hội đồng làng có tổ chức hương ẩm. Đến dự, chánh tổng rồi các lý trưởng đều được ngồi mâm trên. Còn tên địa chủ tuy giàu có nhưng vẫn phải ngồi ở mâm thứ hạng.

Hắn tức lắm. Một hôm, có người khích hắn:

- Nhà giàu, trâu đàn, ruộng mẫu, kẻ ăn người ở, vậy mà ra làng vẫn phải ngồi chiếu dưới. Tiền bạc nhiều mà sao không mua lấy một cái chức.

Hắn nghe nói phải. Thế là hắn chuẩn bị mấy thẻ vàng, cùng ba vạn bạc rồi đến nhà chánh tổng để mua lấy một chức lý trưởng.

Viên chánh tổng nghe hắn trình bày mới nói:

- Nghe nói nhà người có cô con gái xinh xắn, nết na, đã cùng với ai chưa?

Tên nhà giàu mới nói:

- Ấy, tôi cũng biết ông chánh có người con trai. Nếu được thì xin ông cứ cho người đến dạm ngõ.

Người con trai ông chánh là đứa què quặt, bệnh tật, chỉ biết ăn, không biết làm, nó chẳng đi học nên dốt lắm. Được lời, ông chánh tổng như vớ được vàng, mới vội cho người sang dạm ngõ rồi làm lễ cưới cho con trai. Cưới xong rồi về nhà chánh tổng, cô gái xinh đẹp kia mới vỡ lẽ là mình đã bị lừa. Cha cô đã bán đứng cô cùng với một số tiền vàng để mua cái chức lý trưởng.

Lại nói chuyện tên địa chủ nhà giàu, từ khi có cái chức lý trưởng được ngồi lên chiếu trên của làng, dân làng càng khinh hắn ra mặt, vì hắn đã dốt nát lại thích sang trọng. Một hôm ra làng, tên địa chủ kia khăn xếp áo the, hãnh diện ngồi vào giữa chiếu trên. Người làng thấy thế thì lấy làm khinh lắm, có người bèn làm mấy câu thơ khao làng rằng:

Bán lợi mua lấy cái danh
Tuồng là những kẻ mảnh sành chiếu trên.


Cái chức lý trưởng mà người nhà giàu nọ có được là do phải bán đổi cả con gái và tiền bạc mới có. Vì thế dân làng biết chuyện trên nói rằng: “Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng” là vậy.

--------

Bán lợi, lợi đây không chỉ cái vật chất mà có cả tinh thần, để mua lấy một sự danh giá. Bây giờ nâng cao hơn một bước là mua danh, trục lợi người ta khái quát thành chữ “chạy”. Cái sự mua danh trục lợi, chạy chức, chạy quyền tồn tại trong xã hội đối với những kẻ phàm phu.

(Theo “Đi tìm điển tích thành ngữ”. NXB Thông Tấn)

Thứ Ba, 30 tháng 9, 2014

'Lòng vả cũng như lòng sung'


Trong cuộc sống, chắc các bạn đã từng nghe câu “Lòng vả cũng như lòng sung”. Ý nghĩa của câu thành ngữ này là gì? Mời các bạn tham khảo phần giải nghĩa dưới đây.
Câu truyền miệng “Lòng vả cũng như lòng sung” ám chỉ một điều lòng ta thế nào thì lòng người cũng thế. Ta sao người vậy, chớ vội chê người mà không xét mình.

Vả và sung cây cùng họ với nhau, quả mọc thành chùm. Quả vả to hơn quả sung. Quả sung ăn được. Ruột quả vả và ruột quả sung có côn trùng sống ký sinh.

Nghĩa bóng: Lòng dạ, suy nghĩ, tâm trạng của con người ai cũng như ai, không có gì khác nhau; cùng chung cảnh ngộ thân phận.

Còn có câu: Bụng trâu làm sao bụng bò làm vậy; Chanh khế một lòng, bưởi bòng một dạ; Lòng bầu cũng như ruột bí; Máu bò cũng như tiết dê; Ngài khác gì tằm; Sung cũng như ngái; Mái cũng như mây.

Chuyện kể:

Cây vả và cây sung mọc ở bờ ao. Hai cây làm bạn với nhau che mát cho đám rêu rong, ếch nhai. Một hôm, chả biết thế nào cây sung nói với cây vả:

- Bác vả ơi, lá của bác to như cái tai trâu, mà toàn lông lá phát khiếp. Bác sống ở đây bọn cóc nhái ghét bác vì quả của bác chẳng ai thèm ăn, rụng thối cả bờ ao. Bằng không, bác mọc ra chỗ đồi kia, vừa rộng lại có bao nhiêu đất ăn, chẳng phải tranh nhau tý đất bờ ao làm gì cho khổ.

Cây vả thấy thế bực lắm. Nó bảo:

- Cô sung thật chẳng biết điều. Vả tôi mọc ở đây trước. Ngày xưa tổ tiên cô mọc ở suối trên rừng kia, may mà có con chim ăn quả của cô, bay về đậu lên vả tôi, mới ỉa một bãi xuống, mà mọc thành cô.

Hai cây cãi nhau mãi chẳng ai chịu ai. Có con chim thường bay qua lại đây để mổ quả vả và quả sung nghe thấy vậy, nó cười như hót, rồi bảo rằng:

- Chị vả và chị sung ơi, đừng cãi nhau nữa, các chị không biết đấy thôi chứ tôi mổ quả của các chị tôi biết. Lòng chị vả cũng như lòng chị sung thôi, đều đầy những muỗi, hay gì mà cứ cãi nhau thế.

Cây vả và cây sung lúc ấy mới ngượng ngùng xem lại quả của mình thì thấy ruột quả rỗng giống nhau, lại còn đầy côn trùng sống ký sinh.

--------------------

Câu truyền miệng “Lòng vả cũng như lòng sung” ám chỉ một điều lòng ta thế nào thì lòng người cũng thế. Ta sao người vậy, chớ vội chê người mà không xét mình.

Lòng vả cũng như lòng sung
Một trăm con lợn cũng chung một lòng.


(Ca dao)

Giống như cây vả và cây sung chê trách, nói xấu nhau, nhưng chỉ có con chim mới biết trong ruột sung, ruột vả như thế nào.

(Theo “Đi tìm điển tích thành ngữ”. NXB Thông Tấn)